menu

Bản tin tuyên truyền phổ biến pháp luật tháng 5 năm 2026

29/05/2026 - 15:03
Phổ biến pháp luật

I. Thông tư số 19/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về dạy thêm, học thêm

Ngày 31/3/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 19/2026/TT-BGDĐT Thông tư Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về dạy thêm, học thêm.

Theo đó, theo Điều 6 Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT được sửa đổi bởi Điều 3 Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT có quy định như sau:

Điều 6. Dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường

1. Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau:

a) Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật;

b) Công khai, cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm để bảo đảm sự tham gia giám sát của học sinh, gia đình và cộng đồng xã hội (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Thông tư này)."

2. Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm.

3. Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm tuân thủ quy tắc ứng xử của nhà giáo theo quy định, có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng kí kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo, bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động dạy thêm.

>>> Xem toàn văn tại: Thông tư số 19/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 15/5/2026

II. Thông tư số 15/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành Điều lệ trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học

Ngày 24/3/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 15/2026/TT-BGDĐT về Điều lệ trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.

Theo đó, trường phổ thông được xác định là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật.

Điểm đáng chú ý, Điều lệ mới trao quyền chủ động cho nhà trường trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế; đồng thời được quyết định phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và triển khai các hoạt động như trải nghiệm, hướng nghiệp, STEM/STEAM, phát triển năng lực số, trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ năng sống theo quy định.

Về tổ chức bộ máy, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường, thực hiện quản lý, điều hành và trách nhiệm giải trình theo quy định.

>>> Xem toàn văn tại: Thông tư số 15/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 10/5/2026

III. Nghị định số 88/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo

Ngày 28/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2026/NĐ-CP về quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo được ban hành ngày 28/3/2026, trong đó quy định việc xây dựng và khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của người học.

Theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 88/2026/NĐ-CP, dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời được tạo lập với các nội dung chính gồm:

- Thông tin học bạ ghi nhận toàn bộ quá trình học tập, kết quả học tập và rèn luyện trong giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên;

- Thông tin về văn bằng, chứng chỉ sau khi tốt nghiệp hoặc hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng; thông tin công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

- Thông tin kết quả học tập trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp;

- Thông tin chứng nhận kết quả đánh giá năng lực qua các kỳ thi, kiểm tra do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức; thông tin về giải thưởng, thành tích học tập;

IV. Thông tư số 22/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể, chỉnh sửa cập nhật sách giáo khoa bản in sang sách giáo khoa điện tử; tổ chức thẩm định sách giáo khoa điện tử

Ngày 06/4/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 22/2026/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn, quy trình chuyển thể, chỉnh sửa cập nhật sách giáo khoa bản in sang sách giáo khoa điện tử; tổ chức thẩm định sách giáo khoa điện tử.

Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 22/2026/TT-BGDĐT, sách giáo khoa điện tử được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa bản in đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, bảo đảm tính khoa học, chính xác và sư phạm của nội dung dạy học. Việc chuyển thể sang định dạng số chỉ nhằm bổ sung các yếu tố công nghệ, tăng khả năng tương tác và hỗ trợ quá trình dạy học, không làm thay đổi bản chất nội dung của sách giáo khoa.

Điểm đáng chú ý, Thông tư quy định rõ: sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in và không mang tính bắt buộc đối với cơ sở giáo dục, giáo viên, học sinh. Quy định này thể hiện định hướng triển khai sách giáo khoa điện tử theo hướng hỗ trợ, bổ sung cho hoạt động dạy học, thay vì thay thế hoàn toàn phương thức truyền thống.

>>> Xem toàn văn tại: Thông tư số 22/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 22/5/2026

V. Thông tư số 33/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam

Ngày 15/4/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BGDĐT về Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam.

Theo đó, Thông tư số 33/2026/TT-BGDĐT bổ sung Tiền bậc 1 (Pre A1) vào Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam (KNLNNVN). Khung được xây dựng tham chiếu CEFR và chia thành 3 cấp như sau:

Cấp độ KNLNNVN CEFR
Tiền bậc 1 Pre A1
Sơ cấp Bậc 1 A1
Bậc 2 A2
Trung cấp Bậc 3 B1
Bậc 4 B2
Cao cấp Bậc 5 C1
Bậc 6 C2

Theo Điều 3 Thông tư 33/2026/TT-BGDĐT, KNLNNVN được sử dụng để:

- Làm chuẩn thống nhất về năng lực ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân.

- Làm căn cứ xây dựng chương trình, giáo trình, kiểm tra, đánh giá và chuẩn đầu ra.

- Hỗ trợ giáo viên giảng dạy, người học tự đánh giá năng lực.

  • Phục vụ công nhận, quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ và hợp tác quốc tế theo CEFR.
  • >>> Xem toàn văn tại: Thông tư số 33/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 31/5/2026

VI. Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên

Ngày 27/3/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT quy định Khung năng lực số đối với giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.

Theo Điều 1 Thông tư này, Khung năng lực số áp dụng cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và các tổ chức, cá nhân có liên quan; là căn cứ để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá năng lực số trong toàn ngành giáo dục.

Khung năng lực số được sử dụng để xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng; hỗ trợ giáo viên, cán bộ quản lý tự đánh giá, phát triển năng lực; đồng thời bảo đảm thống nhất yêu cầu về năng lực số trong hệ thống giáo dục.

Về tổ chức thực hiện, Điều 3 quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giáo viên. Trong đó, cơ sở đào tạo phải tích hợp nội dung năng lực số vào chương trình đào tạo; giáo viên, cán bộ quản lý chủ động tham gia bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm.

>>> Xem toàn văn tại: Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 12/5/2026

Phòng Hành chính - Tổ chức

Đăng ký ĐKCLGD